www.donghuongtienphuoc.com - Đồng hương Tiên Phước - Quê hương là của chúng tôi nhưng cảm nhận là của bạn

Nhớ một gánh hát bội xưa

 Mấy chục năm trở về trước, mỗi khi Tết đến, xuân về, một trong những hình thức thưởng thức văn hóa văn nghệ dân gian không thể thiếu của người dân xứ Quảng là đi xem hát bội, tức hát bộ hay hát tuồng: “Tai nghe trống chiến trống chầu/ Xếp ba hột đậu phụng lộn đầu lộn đuôi”; “Tai nghe trống chiến/ Không khiến cũng đi”.  

 

Hát bội ngày thường đã vui, ngày Tết càng vui gấp bội. Đặc biệt, người dân Quảng mê đến mức dù xa đến mấy, thậm chí cả hàng chục cây số, cũng băng rừng lội suối mà đi. 

 

Hồi nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước, ở làng Phước Tích, nay thuộc xã Tiên Lộc, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, người dân ai ai cũng mê hát bội. Đặc biệt, trong những ngày Tết cổ truyền, thể nào họ cũng xem vài ba đêm hát bội. Nghe làng nào tổ chức hát bội, dù xa hàng chục cây số, dân làng Phước Tích cũng rủ nhau mà đi. Nhưng, không chỉ ngày Tết, ngay cả ngày thường, thỉnh thoảng trong làng, khi có việc gì, như mừng nhà mới hay sinh con trai chẳng hạn... họ cũng mời ba người biết hát bội về hát cho vui. Thường, những gia đình này phải giàu có. Người nghèo, lấy tiền đâu ra để chi phí, đài thọ? Còn lý do sao chỉ mời vỏn vẹn... ba người thì tương đối dễ hiểu, bởi theo quan niệm của người dân địa phương thì số ba là chữ số may mắn, bởi nó tượng trưng cho Phước - Lộc - Thọ. Dĩ nhiên, trong lúc hát phải có trống đánh, đờn vang mới rôm rả. Lúc bấy giờ, trong làng có lập một trường hát lấy tên là Trường hát ông Bổn, do ông Tạ Bổn, người Hoa, giàu nức tiếng, bỏ tiền ra để lập. Khi mời gánh hát đến biểu diễn, ông bán vé thu tiền.

 

Một đoàn hát bội hồi xưa 

Về nguyên nhân ra đời của gánh hát làng Phước Tích, theo lời ông Nguyễn Văn Xưng, sinh năm 1928, thì sau ngày giải phóng miền Nam, ông Cột, chủ tịch xã, vốn máu mê hát bội, trực tiếp gặp ông Nguyễn Lân, nghệ sĩ tuồng, từng theo các đoàn hát bội chuyên nghiệp đi diễn ở nhiều nơi tại Đà Lạt, Nha Trang, Bình Định, nói rõ ý định muốn lập gánh hát. Thống nhất chủ trương xong, ông Nguyễn Lân mời những người biết hát, hát hay như các ông Nguyễn Đình Lê, Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Đình Xưng, Trèn Cần, Nguyễn Kỷ, Nguyễn Cẩm và các bà Nguyễn Thị Đào, Võ Thị Bích, Phí Thị Tâm, Võ Thị Xanh... gia nhập. Như vậy, “biên chế” đầu tiên của gánh hát gồm 12 người, cả nam lẫn nữ. Ông Nguyễn Lân và Nguyễn Văn Xưng, những hạt nhân đầu tiên của gánh hát, đứng ra luyện tập. Các vở tuồng hồi ấy là Ngọc Lan, Ngọn lửa Hồng Sơn, Ngũ hổ bình Liêu, Hoa rừng đẫm máu... Đặc biệt, nghệ nhân Tư Bửu, một nghệ sĩ tuồng nổi tiếng của Quảng Nam, cũng được trên cử về dạy tuồng cho anh chị em diễn viên trong hai tháng ròng, mà chỉ dạy riết một vở là vở Trần Bình Trọng.
 
Tập nhuần nhuyễn xong, gánh hát bắt đầu biểu diễn. Thôi thì trên địa bàn huyện Tiên Phước, không đâu không in dấu chân của anh chị em diễn viên, từ Tiên Lộc đến Tiên Cảnh, Tiên Lập, Tiên Lãnh, Tiên Mỹ, Tiên Cẩm... Một đôi lần, họ đi hát ở Trà My, Chu Lai. Đó là vào giữa những năm 1980, thời kỳ tạm gọi là vàng son của gánh hát làng Phước Tích. Cũng trong khoảng thời gian này, để thu hút khán giả, ông Nguyễn Lân phải mời thêm vài diễn viên ở ngoài như ông Tú ở Hội An, ông Lục ở An Hải, Đà Nẵng, bà Thông ở Tam Kỳ... Hơn thế nữa, ông còn lặn lội vào tận Nha Trang mời bà Sáu Chân, vợ chồng ông Thao ở Bình Định. Thông thường, họ đến biểu diễn chừng mươi ngày, nửa tháng rồi về. Nếu cần, phải kêu lại. Trong suốt hơn mười năm tồn tại, gánh hát làng Phước Tích gần như đi hát quanh năm. Nói chung, đi đến đâu, anh chị em diễn viên cũng được tiếp đón ân cần, đãi đằng chu đáo. Có nhiều nơi hợp đồng chỉ hát 3 đêm nhưng hát đến... 8 đêm liền. Nguyên nhân vì bà con xem đông quá. Vé bán được. Tính ra có lãi. Thế là họ yêu cầu hát tiếp. 
 
                             
                                    Ông Nguyễn Văn Xưng, kép gánh hát làng Phước Tích
 
Trong các vở, gánh hát làng Phước Tích diễn đạt nhất là vở Tiêu Anh Phụng loạn trào. Có lần diễn vở này tại xã nhà Tiên Lộc, đến đoạn thái tử Minh Châu viết tờ để vợ, thấy ông Nguyễn Văn Xưng, kép chính, thủ vai thái tử Minh Châu đạt quá, ông Khuê cầm mấy chục đồng (một số tiền không nhỏ lúc ấy) lên thưởng. Ngoài ông Nguyễn Văn Xưng thì bà Nguyễn Thị Đào, đào chính, đóng cũng rất có hồn. Vai nổi nhất của bà là Thoại Khanh trong vở Thoại Khanh - Châu Tuấn. Rồi vai Trịnh Nương trong vở Hồ Mạnh Quế ly thê. Vai anh hề đã có ông Trần Cần... Nói chung, các diễn viên trong gánh hát đều diễn hết mình. Ai cũng có thế mạnh riêng. Nhờ đó, gánh hát Phước Tích tương đối có tiếng tăm. Cho nên, gánh hát được xem như của huyện, lấy tên chung là Đoàn tuồng Tiên Phước. Nhưng, với bà con trong làng, họ gọi bằng tên dân dã, quen thuộc là gánh hát Phước Tích.
 
Đáng tiếc, gánh hát Phước Tích không tồn tại lâu. Nguyên năm 1992, khi ông Nguyễn Lân, bầu gánh, mất đi thì không còn ai có đủ khả năng và nhiệt tình để thay thế. Anh chị em nghệ sĩ ai nấy trở về với đồng ruộng. Hiện nay, lớp diễn viên này nhiều người đã già yếu. Một số không còn nữa. Nhưng, với lớp người cao tuổi làng Phước Tích, mỗi lần Tết đến xuân về, họ lại nhớ đến gánh hát của làng từng tung hoàng ngang dọc vừa tròn hai mươi năm về trước. Mà, hát bội ngày thường đã vui, ngày Tết càng vui lên gấp bội lần. Đêm nào có hát đêm ấy không khác gì đêm hội. Trong đó, có những năm gánh hát đi hát cả tháng liền. Có thể nói, đối với dân làng, gánh hát Phước Tích, một gánh hát dân dã, với nghệ sĩ là những người nông dân thực thụ chân lấm tay bùn, thực sự đã đi vào dĩ vãng, trở thành kỷ niệm không thể nào xóa nhòa trong ký ức
 
Phạm Hữu Đăng Đạt