www.donghuongtienphuoc.com - Đồng hương Tiên Phước - Quê hương là của chúng tôi nhưng cảm nhận là của bạn

Tổng Lãnh Binh Trần Huỳnh

 Phủ đường Tam Kỳ trước đây được đặt tại Chiên Đàn (xã Tam Đàn- Phú Ninh ngày nay), nhưng đến năm 1906, thực dân Pháp và chính quyền tay sai Nam triều đã dời về Tam Kỳ để dễ bề kiểm soát các phong trào yêu nước của nhân dân ta. Tại đây, thực dân Pháp  xây dựng nhiều đồn bót kiên cố làm nơi giam giữ những người yêu nước; đồng thời đặt các cơ quan đầu não của chúng để thuận tiện cho việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Tam Kỳ và các vùng lân cận. Thế nhưng, những thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù vẫn không thể nào ngăn chặn nổi các phong trào yêu nước liên tục nổi dậy, mà nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa  đánh chiếm phủ đường Tam Kỳ của hơn 1.000 nghĩa binh dưới sự chỉ huy của Tổng lãnh binh Trần Huỳnh vào năm 1916.

Trần Huỳnh, thường được gọi là Phó Bẻn (Phó tức là chức phó tổng, còn Bẻn là  gọi theo tên người con trai đầu của ông), sinh ngày 14 3- 1858, tại xã Tân An Tây, tổng Đức Hòa  Trung, huyện Hà Đông (sau đổi thành tổng Phước Lợi, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ); nay thuộc xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước. Sinh thời, Trần Huỳnh là một người có uy tín đối với nhân dân trong xã vì ông đã từng tham gia phong trào Cần  Vương và sau đó đi theo chủ thuyết Duy Tân của chí sĩ  Phan  Châu Trinh.

Những năm 1905 - 1908, Trần Huỳnh đã tiến hành cải cách làng ông bằng việc lập trường tân học dạy chữ quốc ngữ, lấy tên là Trường Tân Xuân và một trường khác có tên là Dục Thanh để dạy võ dân tộc cho  thanh niên trai tráng trong xã nhằm mưu việc cứu nước về sau. Cũng trong thời gian này, Trần Huỳnh nhân danh lý trưởng cùng những người nhiệt tâm ái quốc, thương dân đã bỏ tiền xây dựng một lều chợ lớn (gọi là chợ Cây Cốc) có khung  bằng gỗ, mái lợp tranh. Đây được xem là ngôi chợ rộng lớn và bề thế nhất xứ Hà Đông lúc bấy giờ. Ngôi chợ gồm 11 gian, rộng khoảng 8m, dài  55m và cao khoảng 5m.  Nhờ các hoạt động cải cách này mà dân trí và dân khí của nhân dân trong vùng  đã được nâng  lên rõ rệt.

Kể từ năm 1912 trở đi, các yếu nhân tại Quảng Nam đã tập trung chung  quanh Thái Phiên để vận động khởi nghĩa nhằm đánh đuổi thực dân Pháp và lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế của triều đình nhà Nguyễn. Cuộc vận động này nhanh chóng lan ra toàn Trung Kỳ. Các nhà yêu nước còn vận động được cả vua Duy Tân tham gia, nên phong trào phát triển rất rầm rộ và rộng khắp. Bước sang năm 1915, không khí chuẩn bị khởi nghĩa  ở  Quảng Nam càng trở nên khẩn trương và sôi nổi với các hoạt động như: tăng cường lập thêm các đội nghĩa binh; lạc quyên tiền bạc, lương thực; rèn sắm các loại vũ khí, huấn luyện nghĩa binh... Phong trào phát triển hầu hết  ở  các  tổng trong tỉnh, nhất là ở tổng Phước Lợi và Trần Huỳnh là người tham gia tích cực nhất cho cuộc vận động tại tổng này. Rằm tháng 7 năm Ất  Mão (tức ngày 25-8-1915), Ban chỉ huy khởi nghĩa tổng Phước Lợi chính thức được thành lập. Thể theo yêu cầu của nghĩa binh và nhân dân trong vùng, Trần Huỳnh được chọn làm Tổng lãnh binh.

Đến đầu năm 1916, công việc tổ chức, chuẩn bị khởi nghĩa đã cơ bản hoàn tất. Về lương thực, tài chính - ngoài một số do hội viên và nhân dân tự nguyện đóng góp, hội còn tổ chức tập kích vào một số gia đình địa chủ giàu có để tịch thu tiền bạc, lúa gạo, đồng khí. Lúc này, Trần Huỳnh đã làm Phó tổng Phước Lợi nên ông nhân danh đó mượn đình làng làm kho chứa lúa gạo, lương thực dưới hình thức là số lúa gạo này  để chia cho người nghèo. Lúc này, tinh thần nghĩa binh đang lên rất cao và thời cơ đã chín muồi. Vì vậy, tối 3-5-1916, gần 1.000 dân binh đã tập trung về căn cứ Gò Chùa (còn gọi là Gò  Đỏ) làm lễ xuất quân. Lễ khao quân được tiến hành tại nhà Trần Huỳnh, mỗi người được uống một chung rượu hòa  với  huyết bò gọi là "rượu thề phục quốc” và sau đó tiến hành lễ tế cờ,   chính thức xuất quân. Đại quân do Trần Huỳnh chỉ huy, cùng với sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân, bừng bừng khí thế, cờ xí, gươm mác rợp trời, ào ạt tiến về bao vây phủ đường Tam Kỳ (nay là trụ sở UBND phường An Mỹ). Cùng thời điểm này, một cánh nghĩa binh khác từ phía đông Tam Kỳ do cụ Trịnh Uyên chỉ huy cũng tiến về bao vây uy hiếp  đồn Đại Lý (nay là Bảo tàng thành phố Tam Kỳ). Trước  lực lượng nghĩa binh hùng hậu, lại có sự hậu thuẫn của hàng nghìn quần chúng nhân dân, bọn lính  ở  phủ đường Tam Kỳ và đồn Đại Lý không còn cách nào khác là tìm đường mạnh ai nấy chạy. Nghĩa binh của Trần Huỳnh bao vây và chiếm được phủ đường Tam Kỳ rất nhanh chóng và dễ dàng. Sau khi chiếm được phủ đường, nghĩa binh đã đập phá, san bằng các đồn bót của giặc; đồng thời phá  nhà tù, giải thoát cho một số lính tập và tù nhân bị giam giữ;  thu ấn tín, thiêu hủy  giấy tờ, hạ cờ giặc và treo cờ của quân khởi nghĩa...

Nhận được tin khởi nghĩa  ở  Tam Kỳ, từ Hội An, Công sứ Charles và Tổng  đốc Từ Thiệp liền phái một trung đội lính Âu Phi với đầy đủ súng ống, đạn dược cấp tốc hành quân đến Tam Kỳ. Nghĩa quân của Trần Huỳnh và Trịnh Uyên mặc dù  đã  anh dũng chiến đấu, chống trả quyết liệt với giặc và sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa,  nhưng gươm, đao, giáo, mác không thể làm gì được trước súng đạn hiện đại của kẻ thù. Mặc dầu vậy, lớp này ngã xuống, lớp khác lại xông lên và đội quân nghĩa binh yêu nước  cũng đã gây cho địch khá nhiều tổn thất. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu,  Trần Huỳnh và những người chỉ huy khác như Trần Tùng Lâm, Trần Khuê, Ngô Đốc... bị giặc bắt đày  ra nhà lao Hội An. Trong lao tù, mặt dù bị tra tấn, dụ dỗ,  nhưng Trần Huỳnh vẫn  khẳng khái nhận hết trách nhiệm về mình và luôn an ủi, động viên các bạn chiến đấu giữ vững ý chí.

Biết không thể mua chuộc, dụ dỗ được Trần Huỳnh,  nên ngày 27-5-1916, Tòa Nam án Quảng Nam đã tuyên án  đày biệt xứ Trần Huỳnh  tại Buôn Ma Thuột. Thế nhưng, ngày 3-6-1916, giặc Pháp đã hèn hạ bắt Trần Huỳnh đem đi xử chém tại Chợ Củi  (Vĩnh  Điện - Điện Bàn). Bước ra pháp trường, Trần Huỳnh vẫn giữ vững khí thế hiên ngang và  trước khi chết ông còn hô vang: "Dòng  giống Hồng Lạc thiên thu - Việt Nam vạn tuế"...

AN TRƯỜNG